Chủ Nhật, 16 Tháng Sáu, 2024

Mở rộng các hành vi bạo lực gia đình và các hành vi bị nghiêm cấm nhằm đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ của pháp luật trong bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2022 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 với nhiều điểm mới quan trọng so với Luật năm 2007. Đặc biệt là quy định về các hành vi bạo lực gia đình, các hành vi bị nghiêm cấm.

* Mở rộng các hành vi bạo lực gia đình, từ 09 nhóm hành vi trước đây đã tăng lên 16 nhóm hành vi với cách tiếp cận dựa trên quyền, đồng thời mở rộng đối tượng áp dụng hành vi bạo lực gia đình

Hành vi bạo lực gia đình không chỉ gây ra những tác hại, hậu quả nghiêm trọng đối với người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng và xã hội, làm phá hoại các giá trị đạo đức trong gia đình và xã hội. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 chỉ quy định các hành vi bạo lực gia đình trong phạm vi đối tượng là các thành viên gia đình, tuy nhiên thực tiễn cho thấy đã xảy ra nhiều vụ việc bạo lực thương tâm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng lại đến từ những thành viên chung sống như vợ chồng hoặc giữa cha dượng và con riêng của người đã ly hôn, người chung sống như vợ chồng…

Vì vậy Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã mở rộng các hành vi bạo lực gia đình, bao gồm 16 nhóm hành vi bạo lực gia đình được quy định tại Điều 3. Đồng thời quy định rõ các hành vi này được thực hiện giữa người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau cũng được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ.

Theo đó các hành vi bạo lực gia đình bao gồm: Hành vi về hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng. Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý. Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em. Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình. Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý. Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng. Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực. Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp. Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi. Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình. Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác. Cô lập, giam cầm thành viên gia đình. Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.

* Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình được bổ sung, mở rộng phù hợp với các hành vi bạo lực gia đình.

Do các hành vi bạo lực gia đình có mở rộng hơn về phạm vi, đối tượng nên các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình cũng được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp.

Theo đó các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm: Hành vi bạo lực gia đình theo quy định tại Điều 3 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022; kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình; sử dụng, truyền bá thông tin, tài liệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình; trả thù, đe dọa trả thù người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; cản trở việc phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình; lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để thực hiện hành vi trái pháp luật; dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.

Để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình, bảo đảm, thực hiện các quyền, lợi ích của người bị bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 cũng quy định việc xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thì người ra quyết định xử phạt có trách nhiệm thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó.

Bộ Tư pháp được giao trách nhiệm phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho hòa giải viên, người thực hiện trợ giúp pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình; hướng dẫn Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện báo cáo thống kê trường hợp người bị bạo lực gia đình được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý./.

Nguồn: pbgdpl.gov.vn

spot_img
spot_img
spot_img

TIN CÙNG MỤC

TIN MỚI NHẤT